Trung y điều trị biến chứng bệnh AIDS

Đối với biến chứng bệnh AIDS, hiệu quả trị liệu càng lý tưởng.

1. Mụn nước cảm nhiễm virút : Người bệnh AIDS , người bệnh dấu hiệu liên quan tổng hợp bệnh AIDS biến chứng mụn nước cảm nhiễm virút vô cùng phổ biến và ngoan cố, thường 1 lần phát bệnh kéo dài nửa năm trở lên. Dùng Long đởm tả can thang sắc uống mỗi ngày 2 lần, 2 ~ 3 tuần là khỏi, dùng tiếp 3 tuần cũng cố. 
Long đởm tả can thang : Long đởm thảo 9g, Hoàng cầm 6g, Sơn chi tử 6g, Mộc thông 6g, Trạch tả 6g, Đương qui 6g, Sinh địa hoàng 6g, Sài hồ 6g, Cam thảo 3g.

2. Tiêu chảy (phúc tả) : Nhất là tiêu chảy tính ngoan cố do Crypto Sporidium gây ra, phương pháp điều trị của Tây y không hữu hiệu, sử dụng Bạch đầu ông thang, phép thụt bảo lưu (bảo lưu quán trường pháp) có hiệu quả nhất định. 
Bạch đầu ông thang : Bạch đầu ông 12g, Tần bì 9g, Hoàng liên 3g, Hoàng bá 6g.

3. Thiếu máu: Thiếu máu là vấn đề của bệnh AIDS tồn tại phổ biến, nhất là bệnh nhân trị liệu AZT, thường do thiếu máu mà ngừng trị liệu, sử dụng phương pháp hoạt huyết hóa ứ và hòa huyết sinh tân, dùng xử phương Lộc nhung (nhung nai) làm chủ, cùng Đào Hồng tứ vật thang sắc uống thu được hiệu quả trị liệu khá tốt. 
Đào Hồng tứ vật thang : Đương qui 10g, Xích thược 10g, Xuyên khung 10g, Đào nhân 10g, Sinh địa 15g, Hồng hoa 6g.

4. Lao và Lao phi điển hình: Đây là biến chứng thường thấy của bệnh AIDS, sử dụng Tây dược liều lớn, thời gian dài, tác dụng phụ lớn, mà Trung dược Tri bá bát vị hoàn, Thanh phế thang đối với hư nhiệt, mồ hôi trộm, hỏa bốc (thăng hỏa) v.v... là khá hữu hiệu. 
Tri bá bát vị hoàn : Tri mẩu 6g, Hoàng bá 9g, Đơn bì 9g, Trạch tả 9g, Phục linh 9g, Thục địa 24g, Sơn thù nhục 12g, Hoài sơn 12g.
Thanh phế thang : Thiên môn đông 10g, Mạch môn đông 10g, Tri mẩu 10g, Xuyên bối 10g, Quất hồng 10g, Hoàng cầm 10g, Tang bạch bì 10g, Cam thảo 3g



5. Cảm nhiễm Candida (niệm châu khuẩn) sắc trắng: Nhất là bệnh candida xoang miệng sắc trắng (Nga khẩu sang) là biến chứng thường thấy nhất của bệnh AIDS, xoang miệng, bộ lưỡi phân bố đầy vết ban mạc dạng sữa cạo đi rất khó. Miệng khô khát, ít uống, không đói, ăn không vào, tiểu tiện ngắn đỏ, đại tiện bí kết, lưỡi đỏ thẫm, rêu lưỡi không có tân dịch, có lúc mạch tế sác, chứng thuộc ôn bệnh nhập dinh, nhiệt tích phát ban, trị nên thanh dinh ích khí, lương huyết hóa ban, phương dùng: Sinh sái sâm (sắc riêng) : Xích thược 10g, Kê nội kim 10g, Sinh địa 15g, Mạch môn đông 15g, Ngọc trúc 15g, Đơn bì 15g, Hoàng tinh 30g, Tê giác bột 2 chi (hoà uống), hợp thêm nước sắc Huỳnh tinh súc miệng, mỗi ngày nhiều lần.
6. Nếu biến chứng cảm nhiễm phổi, chứng có ho đàm vàng đặc dây máu, lượng nhiều tanh hôi, ngực đau, ăn kém, tinh thần mệt mỏi, gầy mòn, lưỡi đỏ, rêu nhạt vàng cáu bẩn, mạch hoạt thời thuộc đàm nhiệt ủng phế, nhiệt độc thương lạc, nên thanh nhiệt địch (quét) đàm, thác độc bài nùng, phương dùng: Bạch cập 30g, Hoàng cầm 30g, Đông qua nhân 30g, Hoàng tinh 30g, Bắc sa sâm 30g, Cam thảo 3g, Đởm tinh 20g, Bán hạ 20g, Chỉ xáx 20g, Phục linh 20g, sắc uống mỗi ngày 2 lần. Ngoài ra, có thể dùng Nhân sâm thang gia Hoàng liên thanh tâm ẩm có hiệu quả trị liệu nhất định. 
Nhân sâm thang : Nhân sâm 90g, Cam thảo chích 90g, Can khương 90g, Bạch truật 90g. (Ở đây liều lượng có lẽ sách in nhầm, theo tôi liều lượng là: Nhân sâm 9g, Cam thảo chích 9g, Can khương 9g, Bạch truật 9g).
Hoàng liên thanh tâm ẩm : Hoàng liên 10g, Xuyên luyện tử 10g, Đương qui 10g, Sinh địa hoàng 15g, Phục thần 15g, Viễn chí 12g, Toan táo nhân 12g, Liên tử nhục 6g, Cam thảo 6g.

7. Chứng tổng hợp mệt mỏi suy giảm mạn tính : Nhất là người bệnh nữ, đa số rối loạn nội tiết, kinh nguyệt dị thường; có thể dùng Gia vị tiêu giao hoàn (tán), Đào hồng tứ vật thang, thay đổi nhau dùng.
Gia vị tiêu giao hoàn (tán) : Sài hồ 30g, Đương qui 30, Bạch truật 30g, Bạch thược 30g, Vân linh 30g, Chích cam thảo 15, Đơn bì 10g, Sơn chi tử 10g, Bạc hà 10g, Ổi khương (gừng nướng) 3g. 
Đào Hồng tứ vật thang : Đương qui 10g, Xích thược 10g, Xuyên khung 10g, Đào nhân 10g, Sinh địa 15g, Hồng hoa 6g.

Trần Hoàng Bảo - Dịch từ TRUNG TÂY Y CHẨN TRỊ BỆNH HOA LIỄU- Nhà xuất bản khoa học kỉ thuật Tứ Xuyên (1992)