BỆNH VỀ MŨI


 Đại cương


                        Mũi là cửa ngõ của đường hô hấp, có chức năng:
            1. Chủ việc hô hấp : Đưa thanh khí vào và đẩy trọc khí ra, do đó có liên hệ nhiều với Phế, vì vậy sách Nội Kinh cho rằng :  “Mũi là khiếu của Phế – Phế khai khiếu ở mũi”.
            2. Bảo vệ : Nhờ cấu tạo đặc biệt của các mạch máu cuốn dưới mũi mà nhiệt độ bên ngoài dù quá nóng hoặc quá lạnh khi qua mũi cũng được điều chỉnh để luôn giữ được nhiệt độ 370 C và ẩm độ 100%, đồng thời ngăn cản và làm sạch bụi nhờ các biểu mô lông, thanh lọc các hóa chất độc hại bằng một phần niêm dịch mũi.

            3. Cộng hưởng: Âm thanh phát ra được tốt ( nghe rõ…) là nhờ các hang (hốc, xoang) giống như thùng đàn, nếu hốc xoang bị viêm, nghẹt… âm thanh sẽ bị biến đổi.
            4- Ngửi, phân biệt mùi vị: Nhờ các đầu tận cùng của thần kinh khứu giác ở phần trên. Khi có rối loạn ở mũi, hoặc mũi bị bệnh có thể gây ra giảm hoặc mất hẳn khả năng phân biệt mùi vị.

            Sự quan hệ giữa mũi và tạng phủ


            a- Sinh Lý

            + Mũi Và Phế:
            - Thiên ‘Ngũ Duyệt Ngũ Sứ’ (Linh Khu 37) ghi: “ “Mũi là quan của Phế, mắt là quan của Can…)
            - Thiên ‘Mạch Độ’ (Linh Khu 17) ghi: “Phế khí thông ở mũi, Phế hòa thì mũi có thể ngửi thấy mùi thơm…”.
            + Mũi Và Đởm: Mũi là ‘Trung tinh chi phủ’ . đường kinh Đởm vận hành lên phía sau  não, khí thanh dương theo đó đi lên não, xuất ra ở thanh khiếu. Nếu Đởm có nhiệt, nhiệt theo đó lên não, ủng tắc ở thanh khiếu, thanh khiếu không thông gây nên chứng Tỵ uyên (viêm xoang). Thiên ‘Quyết Khí’ (Linh Khu 30) ghi: “Đởm chuyển nhiệt vào não sẽ gây nên chứng tỵ uyên, nước dơ chảy xuống không ngừng”.
            + Mũi cũng có liên hệ mật thiết với tạng phủ, xương, tứ chi và sự vận hành của toàn thân. Thiên ‘Ngũ Sắc’ (Linh Khu 49) ghi: Ngũ sắc do minh đường quyết định. Minh đường tức là mũi”. Từ đó,  hình thành phương pháp ‘Tỵ Châm’ (Châm ở mũi) để trị bệnh.

            b- Bệnh lý

            + Thiên ‘Bản Thần’ (Linh Khu 8) ghi: “Phế khí hư thì mũi nghẹt, không thông, hơi thở ngắn…”.
            + Thiên ‘Quyết Khí‘  (Linh Khu 30) ghi: “Đởm có nhiệt đưa lên mũi thì Vị suy sẽ làm cho trán bị chứng tỵ uyên”.
            + Thiên ‘Quyết Khí’ (Linh Khu 30) ghi: “ Tinh thoát thì tai điếc, khí thoát thì mắt nhìn không rõ, dịch thoát thì tai ù…).

Nguyên nhân gây bệnh


a- Ngoại nhân : Lục dâm Phong, Hàn, Thử, Nhiệt, Táo, Thấp từ bên ngoài xâm nhập vào Phế, đi lên tỵ khiếu, gây nên bệnh như mũi nghẹt, mũi đau, chảy máu cam…
. Do táo, nhiệt, hỏa tà xâm nhập vào mũi gây nên mũi khô, đau, sưng, chảy máu mũi.
. Nếu thấp nhiệt xâm nhập vào mũi thì làm cho mũi nghẹt, mũi chảy nước đục, đầu đau, đầu căng tức…

b- Nội nhân: Bệnh ở mũi có thể do Phế, Đởm, Thận và Tỳ bị xáo trộn.
            + Phế hư tổn: Phế khai khiếu ở mũi. Thiên ‘Mạch Độ’ (Linh Khu 17) ghi: “Phế khí thông ở mũi, Phế hòa thì mũi có thể ngửi thấy mùi thơm…”.
            Vì vậy, nếu Phế khí hư thì mũi mất ôn dưỡng, thường gây nên mũi nghẹt, không ngửi thấy mùi.
            Nếu Phế âm hư tổn thì mũi không được tư nhuận gây nên mũi khô, hít thở khó, mũi chảy mủ, mũi thở ra mùi hôi, cơ mũi teo lại
            + Đởm Nhiệt Bốc Lên: Đởm là ‘trung tinh chi phủ’, giữ ‘tinh trấp’ bên trong, khí thông lên não. Nếu Đởm có nhiệt, nhiệt chuyển vào não, ủng tắc ở đầu, trán, xoang mũi gây nên mũi nghẹt, mũi chảy nước đục, đầu váng, đầu nặng, mũi không ngửi thấy mùi, niêm mạc mũi sưng đỏ.
            + Thận suy, Thận hư: Thận tinh có tác dụng tư nhuận, nhu dưỡng ngũ quan, cửu khiếu, còn Thận dương có tác dụng làm ôn ấm. Nếu Thận âm suy tổn, âm hư thì mũi không được dưỡng, gây nên mũi khô, nóng, đau, không ngửi thấy mùi, đầu váng, hoa mắt, tai ù, điếc, mũi chảy nước đục,  niêm mạc mũi đỏ tối, khô, ít tân dịch.
            Thận dương bất túc, mũi không được ôn ấm, thường gây nên mũi nghẹt, mũi chảy nước xanh…
            + Tỳ mất chức năng kiện vận: Tỳ chủ vận hóa chất tinh vi của thủy cốc, cách chung là thủy dịch. Nếu Tỳ hư, không kiện vận được, thủy thấp đình trệ, thấp tụ lại thành đờm, nước mũi, thường thấy mũi nghẹt, chảy nước mũi dính nhiều, đầu váng, niêm mạc mũi sưng.
Nếu thấp nhiệt uẩn kết ở Tỳ Vị, làm mất chức năng vận hóa, chức năng thăng giáng thất thường, gặp trong các chứng mũi nghẹt, chảy nước mũi, đầu váng, niêm mạc mũi sưng đỏ.

Chẩn đoán bệnh về mũi

1-       Mũi Nghẹt

+ Mới phát: mũi nghẹt, tiếng nói nặng, chảy nước mũi dính, niêm mạc mũi sưng đỏ, nhức đầu, đầu váng, sốt, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng nhạt, mạch Phù Sác, thường do phong nhiệt độc gây nên.
+ Mới phát mũi nghẹt, chảy nước mũi xanh, đầu đau, cơ thể đau, sốt, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng nhạt, mạch Phù Khẩn, đa số do phong hàn.
+ Mũi nghẹt lâu ngày, không ngửi thấy mùi, đầu đau, niêm mạc mũi đỏ tối, lồi lõm như trái dâu tằm, lưỡi đỏ tối hoặc rìa lưỡi có vết ban tím, đa số do khí trệ, huyết ngưng.
+ Một bên mũi nghẹt lâu ngày, chảy mủ, hôi thối hoặc trong nước mũi có lẫn máu, nếu gặp nơi trẻ nhỏ thường là do trong mũi có vật lạ.
+ Một bên mũi bị nghẹt, mũi chảy mủ có sợi máu,  đau, mũi hôi, thường là xoang mũi có sạn hoặc có bướu.
+ Mũi nghẹt kèm ngứa, chảy nước mũi xanh, niêm mạc mũi mầu xám tro, do Phế, Thận đều hư.
+ Một bên mũi nghẹt lâu ngày, nước mũi nhiều mà dính, đầu căng đau, trong lỗ mũi có vật trắng như to như hạt nhãn, đó là chứng tỵ trĩ (Tỵ tức nhục).
+ Mũi nghẹt, khô, đau, nước mũi đục, khó hỉ ra, mũi có mùi hôi, khó ngửi, niêm mạc mũi teo, do Phế âm hư hoặc Phế Tỳ đều hư.
+ Mũi nghẹt, nước mũi nhiều mà đục, đầu đau, miệng khô, miệng đắng, tâm phiền. Thường do hỏa ở Đởm bốc lên, nung nấu, chuyển nhiệt sang não gây nên.
+ Mũi nghẹt, mũi khô, nước mũi khó hỉ ra hoặc nước mũi có sợi máu, ho khan, ít đờm, táo bón, thường do Phế nhiệt, bên trên có đờm.

2-       Sổ Mũi

+ Nước mũi xanh như nước, buổi sáng chảy nhiều hoặc không có giờ nhất định, khi sổ mũi lại kèm nghẹt mũi, ngứa mũi… thường do Phế và Thận đều hư.
+ Chảy nước mũi dính hoặc nhớt, mũi nghẹt, đầu đau, cơ thể đau, sốt, sợ lạnh, do ngoại tà xâm nhập.
+ Chảy nước mũi, mũi nghẹt, đầu váng đau, miệng đắng, miệng khô, tam phiền, hay tức giận, rêu lưỡi vàng thường do hỏa ở Đởm bốc lên.
+ Chảy nước mũi nhiều, mũi nghẹt, đầu nặng, ngực đày, tiêu lỏng, rêu lưỡi vàng bệu, do thấp nhiệt ở Tỳ Vị nung đốt.
+ Chảy nước mũi trong, nhiều, bụng trướng đầy, hơi thở ngắn, ngại nói, chân tay mỏi mệt, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, do khí của Tỳ Vị hư.
+ Chảy nước mũi vàng xanh, mũi khô, mũi hôi, không ngửi thấy mùi, do Phế âm hư tổn.
+ Chảy nước mũi, mũi khô, đau, trong nước mũi có lẫn máu, miệng khô, thích lạnh, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, do nhiệt
ở Phế bốc lên.

Điều Trị Bệnh Mũi

Phương pháp trị bên trong:

1- Sơ Phong, Tuyên Phế: dùng trong trường hợp ngoại tà ủng tắc ở Phế, Phế khí bị uất, mất khả năng tuyên sướng gây nên nghẹt mũi, đau đầu, chảy nước mũi xanh, niêm mạc mũi sưng đỏ…
. Nếu do Phong nhiệt: dùng phép Tân lương giải biểu. Xử dụng bài Ngân Kiều Tán (26), Tang Cúc Ẩm (38).
. Do Phong hàn: dùng phép Tân ôn giải biểu. Dùng bài Ma Hoàng Thang (20).

2- Phương Hương Thông Khiếu: nếu do thanh dương không thăng, trọc âm không giáng. Dùng bài Thương Nhĩ Tử Tán (50).

3- Thanh Đởm, Lợi Thấp: dùng trong trường hợp nhiệt tích ở Đởm, nhiệt truyền vào mũi.
Cách trị: Thanh Đởm, tả nhiệt, lợi thấp, bài nùng. Dùng bài Long Đởm Tả Can Thang (15).

4- Nhuận Táo, Dướng Âm: Do táo làm tổn thương Phế, Phế khí không thông, tỵ khiếu không được dưỡng.
Trường hợp này dùng phép nhuận táo, dưỡng âm, thanh Phế, bài nùng. Dùng bài Thanh Táo Cứu Phế Thang (43), Dưỡng Âm Thanh Phế Thang (08).

5- Tả Hỏa, Giải Độc: Do hỏa độc tích nhiều, bốc lên xoang mũi. Dùng phép tả hỏa, giải độc, thanh nhiệt, tiêu thủng. Dùng bài Ngũ Vị Tiêu Độc Ẩm (29), Ngân Hoa Cam Thảo Thang (24).

6- Lương huyết, chỉ huyết: Do huyết nhiệt, khí thịnh, hỏa nhiệt nung nấu, làm tổn thương niêm mạc mũi khiến cho mũi chảy máu, lượng nhiều, máu mầu đỏ tươi, trong mũi khô.
Dùng phép thanh nhiệt, tả hỏa, lương huyết, chỉ huyết. Dùng bài Thập Khôi Tán (45), Thanh Doanh Thang (42) hoặc Tứ Sinh Hoàn (56).

7- Hoạt Huyết, Thông Lạc: Do khí trệ, huyết ngưng, kinh lạc bị ngăn trở gây nên mũi nghẹt, niêm mạc mũi mầu đỏ tối, cuống mũi sưng to, sần sùi như quả dâu. Dùng phép Hành khí, hoạt huyết, khứ ứ, thông lạc.
Dùng bài Đào Hồng Tứ Vật Thang (09) Gia Giảm.
8- Ôn Bổ Phế Tỳ: Do khí của Phế và Tỳ hư, làm cho mũi nghẹt, mũi chảy nước xanh, đầu váng, niêm mạc mũi trắng.
Cần bổ Phế, ích khí, ông trung, kiện Tỳ. Dùng bài Sâm Linh Bạch Truật Tán Gia Giảm (35).

9- Ôn Bổ Can Thận: Can Thận hư, tỵ khiếu không được nuôi dưỡng gây nên mũi khô, mũi chảy mủ, mũi chảy máu, trong mũi khô hoặc cuống mũi teo, họng khô, miệng khô, đầu váng, hoa mắt.
Nên bổ ích Can Thận, tư âm, nhuận táo. Dùng bài Kỷ Cúc Đại Hoàng Hoàn (14) Gia giảm.

 (Y HỌC THỰC HÀNH - LY HOÀNG DUY TÂN)