CƯỜNG GIÁP


 ( Cường Giáp - Giáp Trạng Tuyến Công Năng Cang Tiến Chứng, Bướu Cổ Lồi Mắt, Bazedow).

            Do nhiều nguyên nhân  làm cho công năng tuyến giáp tăng cao. Là một bệnh nội tiết do kích thích tố tuyến giáp tăng. Thường gặp nhất là Tuyến giáp viêm mạn kèm cường giáp ( bệnh Grave).

            Phương pháp trị chủ yếu của YHHĐ đối với bệnh cường giáp gồm:
            1- Dùng thuốc kháng giáp
( anti thyroxin ).
            2- Dùng Iod.
            3- Cắt bỏ 1 phần tuyến giáp.
            Sau khi ứng dụng 2 phương pháp  trên thấy có thích ứng với các chứng nhất định, thuốc kháng giáp có tác dụng làm giảm tế bào lymphô và sau khi điều trị dễ bị tái phát .
            YHCT xếp bệnh cường giáp vào phạm trù Anh Chứng. Đương nhiên là Anh chứng không chỉ riêng về bệnh cường giáp mà còn gồm các bệnh khác về tuyến giáp nữa. Trên thực nghiệm lâm sàng dài ngày đã tích lũy được kinh nghiệm phong phú về thuốc  Đông y trong việc điều trị bướu cổ, trong đó việc trị bệnh cường giáp đã thu được những kết quả trị liệu khá tốt mà không có tác dụng phụ rõ rệt, đồng thời trong thực tế đã nắm vững được các chứng cường giáp thích hợp với việc điều trị bằng thuốc YHCT. Thường người ta cho rằng những dạng dưới đây thích hợp với việc dùng thuốc YHCT để điều trị :
            1- Bệnh nhẹ hoặc  vừa, nếu nặng có thể kết hợp Đông Tây y .
            2-  Trường hợp quá mẫn cảm với thuốc kháng giáp hoặc  vì phản ứng độc tính mà không thể tiếp tục điều trị, không thể giải phẫu được .
            3- Người bệnh có kèm bệnh gan.
            4- Sau khi ngưng dùng thuốc kháng giáp thì tái phát.
            5- Sau khi giải phẫu, bệnh cường giáp tái phát mà dùng thuốc kháng giáp không hiệu quả.
            6- Dùng thuốc kháng giáp tuy bệnh  có bị khống chế nhưng mắt bị lồi , tuyến giáp sưng to hơn trước .
            YHCT chữa chứng cường giáp lấy biện chứng luận trị làm cơ sở nhưng phân từng loại cũng có sự khác biệt .
            * Y viện Nam Kinh phân thành 4 loại : Can khí uất trệ , Đờm khí giao kết, Can hỏa vượng và Tâm Can âm hư.
            * Y viện Thượng Hải phân làm 3 loại : Khí trệ đờm ngưng, Can hỏa cang thịnh và Tâm Can Âm hư.
            * Y viện Bắc kinh cho rằng chứng trạng điển   hình của bệnh cường giáp không xuất hiện đồng thời mà ở các giai đoạn khác nhau đều có các chứng khác nhau.
            Các phương pháp  phân loại của các tác giả tuy không hoàn toàn giống nhau nhưng trên cơ bản đều cho rằng diễn biến của bệnh này có các quy luật sau :
   + Mới phát : Chủ yếu là Can uất đờm kết, chữa trị nên lý khí, hóa đờm, nhuyễn kiên , tán kết.
   + Thời kỳ sau : Phần âm suy, hao tổn, chữa trị nên nhu Can, tư Thận.
            Trong tiết này chủ yếu giới thiệu những nghiên cứu về chứng cường giáp thuộc Hư chứng.
            Y viện Thượng Hải tiến hành nghiên cứu chỉnh lý đối với việc trị liệu bệnh cường giáp của Hạ-Thiếu-Nông. Phát hiện thấy trong gần 100 người bệnh cường giáp đều có chứng trạng khí và âm đều hư, cho thấy hư chứng chiếm 1 tỉ lệ rất lớn trong bệnh cường giáp, Trong đó có 1 phần bệnh nhân  vừa âm hư vừa kèm Tâm hỏa vượng hoặc  Can hỏa vượng . Nếu kèm Tâm hỏa vượng thì Albumin trong nước  tiểu tăng cao, nếu Can hỏa vượng thì 17 Steroid ( OHCS)  trong nước  tiểu tăng cao.   Hiện tượng này cũng gặp trong các người bệnh Tâm hỏa vượng và Can hỏa vượng thuộc các loại bệnh khác ( như Huyết áp cao... ). Cho thấy 2 chỉ định này không phải là  mối liên quan tất yếu đối với riêng bệnh cường giáp, mà chủ yếu là phản ảnh bản chất hỏa vượng của tạng phủ. Xét theo kết quả trị liệu, trên cơ sở nguyên tắc trị liệu phù hợp, thêm các vị thuốc tả Tâm hỏa ( Hoàng liên ), tả Can hỏa ( Long đởm thảo) tương ứng thì vừa cải thiện chứng trạng của bệnh cường giáp mà các chất Albumin và 17 Steroid ( OHCS) trong nước  tiểu cũng hạ thấp tương ứng . Đặc điểm trị liệu cường giáp của Hạ-Thiếu-Nông là tăng ích khí, dưỡng âm. Trong bài thuốc dùng vị Hoàng kỳ là chủ yếu. Y viện Thượng Hải qua nghiên cứu chứng minh rằng : Thuốc với lượng lớn Hoàng kỳ có tác dụng quan trọng đối với việc đề cao hiệu quả. Dùng Hoàng kỳ 60g, Hạ khô thảo 40g, Bạch thược, Hà thủ ô, Sinh địa đều 20g, Hương phụ (chế) 12g, gọi là bài ‘Cường Giáp Trọng Phương ‘, và dùng phương này bỏ Hoàng kỳ để so sánh với bài Cường Giáp Trọng Phương .  Theo chỉ số phân   tích  cường giáp :
            . Ở nhóm dùng Hoàng kỳ, trước khi điều trị là 19.45 +- 0.84 hạ xuống 7.03 +-0.89 sau khi điều trị.
            . Ở nhóm không dùng Hoàng kỳ thì từ  20.31+- 0.60 hạ xuống 13.11 +- 0.99. Tuy cả 2 nhóm trước và sau khi điều trị đều có sự sai biệt rõ rệt nhưng chỉ số tích phân của nhóm Hoàng kỳ sau khi điều trị thấp hơn so với nhóm không có Hoàng kỳ. Việc trọng dụng Hoàng kỳ ngoài việc thu được kết quả lâm sàng rõ rệt mà kiểm tra trong phòng thí nghiệm cũng thấy kết quả trị liệu tốt. Thí dụ :
            . Huyết thanh T3 ở nhóm Hoàng kỳ trước khi điều trị là 4.22 +- 0,30mg/ml sau khi điều trị hạ xuống 2.68 +- 0,25mg/ml ( P< 0.01), ở nhóm không có Hoàng kỳ thì từ 4.04 +- 0.37 mg/ml xuống 3.97 +- 0.36mg/ml ( P > 0.05).
            . Huyết thanh T4 ở nhóm Hoàng kỳ trước khi điều trị là 19.5 +- 1.25mg/dl sau khi điều trị xuống 12.93 +- 0.87mg/dl ( P < 0.01) ,ở tổ không có Hoàng kỳ thì từ 17.19 +- 1.27mg/dl hạ xuống 16.39 +-1.59mg/dl( P> 0.05)     
            Thông thường thì sự phát bệnh cường giáp có quan hệ với sự rối loạn công năng miễn dịch và sự xuất hiện cầu đản bạch miễn dịch của tuyến giáp hưng phấn trong cơ thể. Hoạt tính Ea của người bệnh cường giáp  trước khi điều trị thấp hơn người bình thường rõ rệt. Sau khi điều trị, ở nhóm Hoàng kỳ Ea tăng cao rất rõ ( P<0.05) , ở nhóm không có Hoàng kỳ thì Ea tăng cao không rõ ( P> 0.05 ). Xét theo sự sai biệt của chỉ định miễn dịch ở 2 nhóm thì tác dụng điều trị của Hoàng kỳ đối với chứng cường giáp có khả năng có quan hệ với năng lực điều chỉnh công năng miễn dịch của cơ thể. Ở nhóm không có Hoàng kỳ mà chỉ đơn thuần dùng thuốc dưỡng âm thì chỉ có khả năng cải thiện chứng trạng mà không có khả năng hạ thấp mức độ T3,T4 và nâng cao Ea, cho thấy phép điều trị bằng thuốc dưỡng âm ở đây chính  là điều trị ngọn ( tiêu ). Chứng âm hư của bệnh nhân  cường giáp có khả năng là  chứng phát ra từ sự suy giảm chính khí, sau khi thêm lượng lớn Hoàng kỳ thì cải thiện được chứng trạng lâm sàng và các chỉ định trong phòng thí nghiệm, không những nâng cao tần suất khỏi bệnh mà còn hạ thấp tần suất tái phát, làm nền tảng cho việc điều trị gốc. Điều này không những có ý nghĩa chỉ đạo đối với việc điều trị bệnh cường giáp mà còn làm phong phú thêm lý luận ‘ Dương sinh Âm trưởng ‘ - ‘Âm được dương trợ mà nguồn suối không cạn ‘ của YHCT. Đương nhiên cũng không thể bỏ qua tác dụng của thuốc dưỡng âm. Do mô hình thực nghiệm cường giáp tạo thành T 3 mà số lượng thụ thể của kích thích tố thượng thận tăng nhiều , lượng háo Oxy tăng lên, mà các vị thuốc tư âm như Sinh địa, Quy bản có khả năng hạ thấp 2 chỉ định này, hồi phục đến mức bình thường. Dùng chung Hoàng liên ( tả Tâm hỏa ) đối với bệnh nhân  cường giáp có đủ chứng trạng âm hư, tâm hỏa vượng thì  liền có khả năng tăng cường tác dụng điều chỉnh tính hưng phấn của giao cảm - thượng thận ở bệnh nhân  . Ngoài ra ông họ Tương còn phát hiện rằng phương tổng hợp dưỡng khí ích âm có khả năng điều chỉnh sự tăng cao khác thường  của hàm lượng CAMP có huyết tương của chuột cường giáp ( thực nghiệm ) do T3 gây ra, giảm thấp lượng  háo dưỡng khí của tổ chức gan và giảm lượng nước  uống  ở mô hình chuột thực nghiệm, đồng thời điều chỉnh  sự biến hóa dị thường của công năng kích thích tố thượng thận . Người ta cho rằng : những tác dụng thu được này không nhờ vào sự hồi phục của tuyến giáp trạng , điều này cho thấy Đông dược có thể thông qua con đường bên ngoài tuyến giáp mà có tác dụng điều tiết sự chuyển hóa của cơ thể để thu được kết quả điều trị lâm sàng .
            Đông dược cũng thường dùng 1 số chứng trạng của bệnh cường giáp để đối chứng trị liệu như đối với chứng mồ hôi nhiều, có thể dùng bột  Mẫu Lệ , cũng có tác giả điều trị bằng Hoàng kỳ, Phù tiểu mạch ...Đối với chứng mất ngủ, hồi hộp, hay mơ thì trên cơ sở ích khí dưỡng âm có thể thêm các vị thuốc ninh tâm an thần như Toan táo nhân , Viễn chí, Long cốt, Dạ giao đằng, Trân châu mẫu...
            YHCT cũng có 1 số thăm dò trong việc điều trị chứng lồi mắt ( đột nhãn). Cường giáp và lồi mắt đều do tự miễn dịch gây ra, trong đó việc thiếu tính ức chế tế bào T  là 1 khâu trọng  yếu trong việc gây ra bệnh mà nồng độ cao của T3,T4 ở bệnh cường giáp làm giảm yếu công năng của Ts , làm tăng sự rối loạn sẵn có của chức năng miễn dịch.
            Đối với chứng lồi mắt :
   +  Y viện Thự Quang (Thượng Hải) dùng Kỷ tử, Bạch giới tử, Trạch tất , Ngọa lõa tử, Địa cốt bì và Bạch tật lê để điều trị bướu cổ lồi mắt.
   + Sở nghiên cứu nội tiết Thượng Hải dùng đơn thuần biện chứng luận trị hoặc  dùng thuốc YHCT thêm“Thyroid ” (Tuyến giáp trạng phiến ) liều thấp,  chữa 24 trường hợp bướu cổ lồi mắt, một số chữa kết hợp với châm cứu. Sau khi điều trị 3-6 tháng tỉ lệ có kết quả ở chứng bướu cổ lồi mắt nhẹ là 90,9%, loại vừa là  75%, . Mức độ mắt thu nhỏ là 2,3mm ( P< 0.01 ), nồng độ T3, T4 trong huyết thanh hạ thấp rõ. Người ta cho rằng tác dụng điều trị của thuốc YHCT có khả năng có quan hệ với sự điều chỉnh tính miễn dịch và công năng của thần kinh thực vật.
            Nguyên tắc chữa trị chính là  Thanh nhiệt, bổ khí, thanh Can, minh mục, tư âm. Các vị thuốc  chính là :Phong hưu, Bạch liễm, Lậu lô, Hoàng kỳ, Huyền tinh thạch, Thạch hộc, Cúc hoa, Kỷ tử, Mật mông hoa, Thiên lý quang, Cốc tinh thảo, Thạch giải...
            Ngoài ra, có tác giả cũng quan sát thấy những bệnh nhân  lồi mắt ở thời kỳ cường giáp ổn định, có chứng trạng ứ huyết ở mắt và toàn thân , các nếp nhăn ở mao mạch và công thức máu đều khác thường . Kiểm tra độ thay đổi của huyết dịch có kết quả. Độ dính của huyết tương toàn phần, HCT đều tăng cao, cho thấy huyết ứ cũng có khả năng chính là  nguyên nhân  phát bệnh hàng đầu của chứng này. Điều này cũng có thể có ý nghĩa nhất định trong việc hướng dẫn điều trị. Việc xử dụng thuốc YHCT có chứa Iod là 1 vấn đề cần cân nhắc về lợi hại. Những  phương thuốc trị bướu cổ truyền thống đều có 2 vị thuốc Côn bố và Hải tảo, có hàm lượng Iod rất cao mà sự ứng dụng Iod trong việc trị bệnh cường giáp theo YHHĐ lại khá hạn chế. Iod có khả năng ức chế cơ hóa tạm thời chất Iod trong tuyến giáp, chủ yếu là  ức chế sự phóng thích kích thích tố tuyến giáp nhưng không phải là  dạng dược liệu có Lưu huỳnh và Uric ức chế sự hình thành của kích thích tố tuyến giáp.. Hiện nay trong lâm sàng người ta lợi dụng hiệu quả cấp kỳ của Iod trong trường hợp khẩn cấp để khống chế sự phân tiết kích thích tố tuyến giáp, như ở người bệnh cường giáp cần giải phẫu gấp. Ngoài ra Iod có thể làm giảm huyết dịch cung ứng cho sự tăng sinh của tuyến giáp. Vì vậy, cũng có thể dùng để chuẩn bị cho tiền giải phẫu. Nhưng trên 1 phương diện khác, phải tỉnh táo để biết rằng việc dùng đơn độc Iod để điều trị có tính quyết định đối với bệnh cường giáp thì luôn luôn có hiệu quả không tốt. Sau khi dùng trong 1 giai đoạn thì bị trầm cảm vì trong tuyến giáp lưu trữ 1 lượng lớn kích thích tố, vì vậy việc dùng các thuốc khác rất khó khăn. Khi dùng Iod để điều trị bệnh cường giáp thì sau khi ngưng dùng , các chứng trạng của bệnh cường giáp tăng nặng hơn. Tác giả Trần Thị làm so sánh giữa hiệu quả cấp thời việc dùng Iod của YHHĐ và thuốc YHCT có chứa Iod để điều trị bệnh cường giáp, thấy ở 2 phương pháp  này thì thời gian bắt đầu có hiệu quả, thời gian đạt được hiệu quả cao nhất và tỉ lệ hiệu quả thì đều giống nhau. Đối với hiệu quả lâu dài của 2 phương pháp  điều trị trên , vì sự hạn chế của điều trị nên không so sánh được. Oâng ta cũng so sánh hiệu quả điều trị bệnh cường giáp giữa loại dùng Iod và các phương thuốc YHCT không chứa Iod. Kết quả thấy rằng tuy thời gian có hiệu quả cao nhất của thuốc YHCT chậm hơn so với Iod nhưng thời gian hiệu quả lại kéo dài hơn so với Iod. Như vậy, khi xử dụng thuốc YHCT có hàm lượng Iod cao để điều trị bệnh cường giáp phải cẩn thận như khi xử dụng Iod.
            Đương nhiên cũng có 1 số báo cáo về 1 số ứng dụng các phương thuốc có hàm lượng Iod  khá cao như bài Tiêu Anh Thang ( Hải tảo, Côn bố, Hoàng dược tử, Mẫu lệ ( nung ) hoặc  bài Hoàng Dược Tử Cao... có khả năng mất hiệu quả ( giảm Iod) nhờ dịch Lô qua thị?. Điều này cho thấy rằng những thuốc YHCT trên còn  chứa 1 số  các thành phần có khả năng khắc phục các tác dụng phụ của Iod, nâng cao hiệu quả điều trị. Để xác định được những điều này, còn phải chờ những tiến bộ mới trong nghiên cứu. 
                        - Hà-Thiệu-Kỳ trong ‘Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học’ báo cáo :
   “ Đối với bệnh cường giáp, theo biểu hiện lâm sàng, nhiều học giả cho rằng thuộc loại âm hư dương kháng kiêm đờm, kiêm ứ . Phép trị dùng Tư dưỡng Thận âm, bình Can tiềm dương, hóa đờm, nhuyễn kiên, hoạt huyết, hóa ứ. Dùng bài ‘Bình Anh Phức Phương ( Sinh địa, Huyền sâm, Đan bì, Hạ khô thảo, Triết bối mẫu, Tam lăng, Nga truật, Ngõa lăng tử, Sơn dược, Đương qui, Sơn thù nhục), bài Phức Phương Giáp Kháng Cao ( Sinh địa, Mạch môn, Bạch thược, Đan sâm, Hạ khô thảo, Mẫu lệ,Tô tử, Ngũ vị tử, Hương phụ (chế), Đảng sâm, Hoàng kỳ), bài Giáp Kháng Cơ Bản Phương ( Bạch thược, Sinh địa, Miết giáp, Qui bản, Sơn dược, Hạ khô thảo, Đảng sâm, Hoàng tinh), các bài này đối với cường giáp nhẹ và trung bình có kết quả tốt.
            Hà-Kim-Lâm báo cáo 120 trường hợp dùng châm cứu bổ các huyệt Túc tam lý ( Vị 36), Tam âm giao ( Tỳ 6) , tả các huyệt Khí anh ( Ngoài kinh), Nội quan ( Tâm bào 6), Gian sử ( Tâm bào 5 ), ngày 1 lần , có kết quả 73,9%. Kết hợp với thuốc kết quả càng tốt.
            Gần đây, có nhiều học giả cho rằng đối với việc kháng giáp, không nên dùng các loại thuốc có Iod như Hải tảo, Hải đái,Côn bố...vì đã dùng rồi kết quả sẽ không tốt. Đó cũng là 1 phát hiện mới”.
            Trần Sĩ Khuê trong ‘Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học’ báo cáo :
   “ Nhiều học giả phát hiện : chứng suy giáp và cường giáp phù hợp với chứng Dương hư và Âm hư theo Trung y . Dùng phép ôn Thận, trợ dương, ích khí chữa chứng Dương hư cũng có thể dùng chữa chứng suy giáp. Dùng phép ích khí thanh nhiệt, dưỡng âm chữa chứng âm hư cũng có thể chữa chứng cường giáp có kết quả.
            Trên lâm sàng dùng Trung dược hoặc  Trung dược kết hợp với viên Thyroxin liều thấp chữa suy giáp , nâng cao mức tuyến giáp tố rõ rệt ( T3, T4 tăng rõ). Phương pháp  chữa này thích hợp với người cao tuổi, suy giáp mà không dùng được tuyến giáp tố, người suy giáp kèm bệnh tim, người bệnh lờn đối với tuyến giáp tố, uống tuyến giáp tố có nhiều tác dụng phụ.
            Đối với chứng cường giáp, có báo cáo chia nhóm nghiên cứu lâm sàng, thấy kết quả cao hơn ở nhóm dùng biện chứng Trung y kết hợp thuốc Tây, tỉ lệ 60%, kết quả ở nhóm dùng Trung dược là 30% và nhóm dùng thuốc Tây là  42,3%.            
            Ngô Trạch Sinh trong ‘Trung Quốc Châm Cứu’ số (1).14/1985 báo cáo trị 45 trường hợp Bướu cổ lồi mắt bằng huyệt kinh nghiệm : Thượng thiên trụ, Phong trì. Để đạt được kết quả, phân theo loại chứng gia giảm :
  1-Khí âm đều hư : ích khí dưỡng âm làm chính. Huyệt chính : Nội quan, Túc tam lý, Tam âm giao, Phục lưu. Phối hợp với huyệt Thái dương, Ty trúc không .
   2-Aâm hư hỏa vượng : Tư âm thanh hỏa là chính. Huyệt chính : Gian sử, Thái xung, Thái khê. Phối hợp với huyệt Thái dương, Toàn trúc.
            Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy : chứng bướu cổ lồi mắt, theo biện chứng YHCT thuộc chứng Aâm hư hỏa vượng.”
            Hà-Kim-Lâm trong ‘Trung Quốc Châm Cứu’ số (5).15/1986 báo cáo: Dùng phương pháp châm trị cường tuyến giáp có phân tích lâm sàng như sau :

            1- Phân nhóm:
- Nhóm 1 : châm huyệt Tỳ hưu ( tương đương huyệt Thủy đột).
   - Nhóm 2 : châm huyệt Nội quan, Gian sử, Túc tam lý, Tam âm giao.
   - Nhóm 3 : châm huyệt Tỳ hưu, Nội quan, Gian sử, Túc tam lý, Tam âm giao.
     2- Cách châm : huyệt ở cổ ( Tỳ hưu ) dùng tả pháp , huyệt ở tay, chân dùng bổ và tả pháp. Lưu kim 30 phút.
   3- Liệu trình : mỗi ngày châm 1 lần, 50 lần là 1 liệu trình .
   Giáp kháng bệnh cơ biến hóa thì theo âm hư khí thiếu, âm hư nội động làm chính. Như thấy nhiệt, mồ hôi ra nhiều, ngũ tâm phiền  nhiệt, hồ hộp, mất ngủ, hơi thở ngắn, tiểu nhiều, lưỡi hồng, ít rêu, mạch Tế, Sác, các chứng bệnh do đó sinh ra. Châm theo nhóm 2 , theo đó mà luận trị. Dùng  phép ích khí, dưỡng âm, thanh hỏa. Xử dụng huyệt Gian sử để thanh tâm hỏa, bình Can mộc, Túc tam lý bổ trung, ích tỳ khí, Tam âm giao tư Thận dưỡng âm, tráng thủy làm chủ, lấy thủy hàm mộc. Điều hòa công năng tạng phủ bên trong , làm cho âm dương, khí huyết, hư thực được bình phục, lấy cách trị gốc làm chính.
            Liêu Phương Chính trong ‘Thành Đô Trung Y  Học Viện Học Báo’ số (1) .23/1987 dùng phương pháp  cứu chữa 30 trường hợp cường tuyến giáp :
   Huyệt chính : Đại trữ, Phong môn, Phế du, Du phủ, Đại chùy, Thân trụ, Phong trì.  
   Phương pháp: 30 người bệnh chia ra làm 3 nhóm :
   + Cứu ngoài da.
   + Cứu + châm.
   + Cứu sâu.
  Có người bệnh phối hợp dùng ôn châm.
   Kết quả : Khỏi : 4 , khá 15, kém 11.
            Vương Minh Uyên trong Trung y Tạp Chí số (2). 43/1985 dùng xung điện trị 48 trường hợp cường giáp :
  . Huyệt chính: 2 bên phía ngoài tuyến giáp, kích thích mạnh.
  . Huyệt phụ : 2 bên vòng tuyến giáp phình ra, 2 bên huyệt Thái dương , kích thích mạnh. Nội quan, Thần môn kích thích vừa... có tác dụng làm kích thích tố giảm, thậm chí trở lại bình thường. 
            Chu-Đức-Bảo, trong Trung Quốc Châm Cứu số ( 3 ). 7/1987 dùng Thủy châm trị 50 trường hợp bướu cổ lồi mắt có hiệu quả.
  Huyệt dùng : Thượng thiên trụ ( trên huyệt Thiên trụ 0,5 thốn). Châm sâu 1 - 1,5 thốn, mũi kim hướng về phía mắt. Cách 1 ngày thủy châm 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Kết quả đạt 83,6%. Tác giả giải thích : huyệt Thượng thiên trụ thuộc về đường kinh túc thái dương Bàng quang, bên trong có huyệt Phong phủ, bên ngoài có huyệt Phong trì, là  nơi phong khí tụ lại, mà kinh dương tụ hợp tại đầu. Vì vậy dùng huyệt Thượng thiên trụ để vận chuyển nhãn cầu, có tác dụng thanh tức phong dương, thông khiếu, minh mục, tiêu ứ, tán kết.      
            Ngô-Trạch-Lâm trong Giang Tô Trung Y Tạp Chí số ( 1 ) 28/1986 báo cáo dùng châm cứu chữa 15 trường hợp bướu cổ lồi mắt :
   Châm huyệt Thượng thiên trụ, Phong trì, Đồng tử liêu, Toàn trúc và Hiệp cốc.
   Cách châm : huyệt Thượng thiên trụ và Phong trì châm mũi kim hướng về phía đầu mũi, sâu không quá 1,2 thốn, theo phương pháp  vê kim đề tháp. Huyệt vùng mặt châm luồn kim dưới da. Châm huyệt Hợp cốc, mũi kim hướng về phía cổ tay. Lưu kim 30 phút, cứ 10 phút lại vê kim một lần . Kết quả đạt 67,6 - 90% .   
(Bệnh học thực hành - LY Hoàng Duy Tân)
-----------------------------------------------------------