HUYẾT TINH


Là tình trạng tinh dịch khi xuất ra có nhiều hồng cầu, thậm chí có thể có mầu đỏ hoặc hồng hoặc trong tinh dịch có máu. 
Nguyên Nhân 
Theo YHHĐ, có thể do Viêm mào tinh hoàn, Viêm tiền liệt tuyến, U xơ tiền liệt tuyến.. hoặc do có mụn nhọt ở đầu túi tinh hoặc do chấn thương làm cho các mạch máu gần túi tinh hoặc ống tinh bị xuất huyết, huyết lẫn vào tinh dịch gây nên chứng Huyết Tinh. Cũng có thể do sinh hoạt tình dục quá mức, cọ xát dương vật quá mạnh cũng làm cho các mạch máu ở bộ phận sinh dục bị tổn thương… gây nên. Cũng có một số trường hợp bệnh ưa chảy máu, huyết áp cao do tĩnh mạch gan bị xơ cứng, ung thư máu… làm cho mạch máu dòn và thay đổi cơ chế đông máu… gây nên chứng Huyết Tinh.
            Theo YHCT
Đông y phân ra hư và thực. Hư chứng thường là âm hư hoả vượng, còn thực chứng thường do hạ tiêu có thấp nhiệt. Đa số âm hư hoả vượng đều do sinh hoạt tình dục quá mức làm hao tổn tinh, lâu ngày gây nên Thận âm hư, hư hoả quấy động tinh cung khiến cho huyết lạc ở tinh cung bị tổn thương gây ra chứng Huyết tinh.
Hoặc do uống nhiều loại thuốc  tráng dương, cay nóng khiến cho hoả bị động, kích thích tình dục, sinh hoạt tình dục quá độ gây nên.
Hoặc do kềm chế xuất tinh lâu dần làm cho hoả bốc lên khuấy động tinh thất, làm cho huyết bị nhiễu loạn gây nên.
Hoặc do ăn uống các thức ăn béo, ngọt quá làm cho Tỳ Vị bị tổn thương, thấp nhiệt uất kết bên trong lâu ngày dồn xuống hạ tiêu, khí hoá không được, dồn vào tinh cung, hoá thành hoả khiến cho tinh huyết trào ra.
Hư chứng: thường sinh ra ngay sau khi bị di tinh hoặc tiểu lẫn tinh, Thận kém không thể hấp thu được, bệnh kéo dài lâu ngày sẽ nhập vào lạc mạch. Huyết tụ lại ngăn trở lạc mạch khiến cho lạc mạch bị vỡ, chảy máu ra ngoài, gây nên huyết tinh.
Thực chứng: thường do bên ngoài bị tổn thương, vết thương bị tổn hại lâu ngày dẫn đến tổn thương lạc mạch ở tinh cung gây ra chảy máu. Loại này thường có huyết cục lẫn trong tinh dịch.
Sách ‘Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận’ viết: “Thận tàng tinh, tinh là sản phẩm cấu thành của huyết. Hư lao sẽ gây nên thương tổn lục cực, khí huyết đều bị tổn hại. Thận đã hư thì không thể tàng tinh, vì thế, tinh huyết đều bị xuất”.

       Nguyên Tắc Điều Trị

Chứng huyết tinh do thấp nhiệt lưu trú tại hạ tiêu, nếu để lâu thường kèm theo âm hư, thuộc loại hư chứng, do đó, cần dùng những loại thuốc dưỡng âm.
Bệnh kéo dài lâu ngày thường huyết sẽ bị ứ trệ. Nếu huyết tinh do huyết trệ ở bên ngoài gây nên thì biện chứng thuộc loại thực chứng, nên dùng phương pháp hoạt huyết, phá ứ làm chính.
Huyết tinh do Thận hư thì nguyên tắc điều trị phải lấy bổ Thận làm chính, đồng thời thêm thuốc lý khí để điều huyết.

        Triệu Chứng

            + Âm Hư Hoả Vượng: Tinh dịch có mầu hồng tươi, dương vật có cảm giác mềm nhão hoặc đau, cơ thể gầy, đau lưng, mỏi gối, mệt mỏi, tinh thần uể oải, miệng khô, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Trì Nhược.
Điều trị: dưỡng âm, giáng hoả. Dùng bài Tri Bá Địa Hoàng Hoàn gia giảm: Tri mẫu, Hoàng bá, Sơn thù, Sơn dược, Thục địa, Trạch tả, Đơn bì.
Hoặc Đương Quy Lục Hoàng Thang (Đương quy, Sinh địa, Thục địa, Hoàng liên, Hoàng bá, Hoàng cầm, Hoàng kỳ.
Nếu bị nặng, dùng bài Đại Bổ Âm Hoàn: Tri mẫu, Hoàng bá, Địa hoàng, Quy bản, Tuỷ sống heo) thêm Tam thất, Huyết dư thán, Bồ hoàng, Hổ phách, Tiên hạc thảo, A giao…
            + Hạ Tiêu Thấp Nhiệt: Tinh dịch có mầu đỏ, eo lưng đau, dương vật ngứa hoặc đau, vùng sinh dục đau âm ỉ, nước tiểu đỏ, tiểu gắt, rêu lưỡi vàng, mạch Sác.
Điều trị: Thanh nhiệt, lợi thấp. Dùng bài Long Đởm Tả Can Thang gia giảm: Long đởm, Hoàng cầm, Chi tử, Trạch tả, Mộc thông, Xa tiền tử, Đương quy, Sài hồ, Sinh địa, Cam thảo.
Hoặc bài Tiền Liệt Tuyến Viêm Thang: Trạch lan, Đào nhân, Xích thược, Đan sâm, Vương bất lưu hành, Bại tương thảo, Xuyên luyện tử, Nhũ hương, Bồ công anh.
            + Ứ Huyết Nội Trở: Tinh dịch mầu hồng hoặc có huyết cục, bụng dưới đau nhói, rìa lưỡi có các điểm ứ huyết mầu tím sẫm, mạch Sắc.
Điều trị: Hoạt huyết, tán ứ. Dùng bài Đào Hồng Tứ Vật Thang gia giảm: Đào nhân, Hồng hoa, Đương quy, Bạch thược, Thục địa, Xuyên khung.
(Bệnh học thực hành - LY HOÀNG DUY TÂN)